QUẢN TRỊ LOGISTICS TRONG CHUỖI CUNG ỨNG

    Sự tiến hóa của logistic mô tả sự  vắn tắt các giai đoạn phát triển cơ bản của logistics kinh doanh và sự thay đổi của tư tưởng quản trị của logistics theo thời gian.

Sự biến đổi của quản trị logistics đi từ phạm vi hẹp đến phạm vi rộng, từ đơn giản đến phức tạp tinh vi, từ riêng lẻ, chia tách , cô lập tới  liên kết , hợp nhất.chứng minh xu hướng chuyển từ tối ưu hóa các nỗ lực quản trị có tính cục bộ sang tối ưu hóa tổng thể,.Điều này cũng cho thấy, việc nhận thức và áp dụng các phương pháp quản trị thích hợp là điều kiện tiên quyết để tạo ra mức hiệu quả logistics cho doanh nghiệp.

 

 

Bước sang thế kỉ 21, cùng với sự thay đổi vô cùng to lớn của nền kinh tế toàn cầu dưới tác động của tiến bộ khoa học, công nghệ và thông tin , sự phát triển của những sáng tạo tri thức và phương pháp quản lý, ngành logistics thế giới nói chung và các phương pháp quản trị logistics nói riêng đã có rất nhiều bước tiến mới.Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải thay đổi để có những thích nghi phù hợp nếu không muốn bị gạt ra ngoài cuộc chơi đầy thách thức này.Cách tiếp cận logistics chuỗi cung ứng hay logistics tích hợp  là một đòi hỏi bức thiết cho các doanh nghiệp kinh doanh trong các chuỗi cung ứng hoặc đang nỗ lực tham dự vào các chuỗi cung ứng toàn cầu hiện nay.

Quan điểm quản trị logistics chuỗi cung ứng dựa trên hai trụ cột cơ bản là quản trị tích hợp và mục tiêu giá trị gia tăng .Hai yếu tố này làm thay đổi phần lớn các phương pháp quản lý  và cách thức vận hành hoạt động logistics tại các doanh nghiệp trong chuỗi so với các quan điểm trước đây.

Quản trị logistics tích hợp ở phạm vi chuỗi cung ứng không chỉ đòi hỏi tích hợp logistics trong nội bộ từng doanh nghiệp như giai đoạn trước đây, mà mở rộng ra phạm vi tích  hợp trong cả chuỗi cung ứng .Có hai dạng tích hợp chính la theo chức năng và theo tổ chức.

Để tích hợp logistics , cần phát triển cs quan hệ trong chuỗi cung ứng theo các chiến lược hợp tác và liên minh .Các mô hình hợp tác như QR ( Quick Response ), CR (Continuous Replenishment), VMI ( Vendor Managed Inventory), DI ( Distributor Integration ) là những  mô hình được sử dụng phổ biến để kết nối luồng sản phẩm theo cách tối ưu nhất giữa các thành viên sản xuất ,bán buôn, bán lẻ trong chuỗi cung ứng với nhau.Tích hợp logistics giúp giảm thiểu chi phí và tăng hiệu quả di chuyển của cả dòng cung ứng.Sự tích hợp này giúp mở rộng biên giới hoạt động ra ngoài một tổ chức trong chuỗi cung ứng, nhờ đó gia tăng sự linh hoạt và sức mạnh chuyên môn trong việc tận dụng các nguồn lực bên ngoài nhờ các liên kết hợp tấc.Tuy nhiên đó lại không làm mất đi tính độc lập của các thành viên trong chuỗi cung ứng như  kiểu hợp tác dọc trong kênh marketing trước đây.

Hỗ trợ hiệu quả nhất cho sự tích hợp logistics là dựa vào sức mạnh của các 3PL, việc liên kết với các 3PL còn được gọi là tích hợp ngang .Các 3PL với năng lực cung ứng dịch vụ logistics trọn gói và phạm vi bao phủ rộng lớn sẽ đảm nhiệm tốt nhất vai trò này.

Khi các đơn hàng, nhu cầu vận tải,dự trữ, kho hàng…đã được phối hợp với nhau giữa các thành viên thì quy mô và vận tốc vận động của chúng có thể chủ động điều chỉnh ở ngưỡng tối ưu nhờ vào năng lực dịch vụ của các 3PL.

Trụ cột thứ hai của quản trị logistics chuỗi cung ứng là nhằm vào giá trị hay mục tiêu cung cấp các lợi ích để tạo ra phần giá trị gia tăng tốt nhất cho khách hàng.Ở đây, giá trị gia tăng của sản phẩm được hiểu là phần giá trị tăng thêm khi tạo ra những lợi ích lớn hơn so với phần vốn của sản phẩm .Sản phẩm sẽ có giá trị càng lớn khi phần lợi ích được tạo thêm ra càng nhiều.

 

Về cơ bản , một sản phẩm chỉ trở nên hữu ích với con người khi có một hình thái hữu ích, được con người sở hữu đúng vào lúc họ cần ,ở chỗ họ đúng và đầy đủ về số lượng .Logistic giúp tạo ra 3 trong các lợi ích này,.Phần giá trị gia tăng mà logistic đóng góp cho sản phẩm là lợi ích về thời gian , địa điểm và số lượng.

Chính vì vậy quản trị logistics phải tạo ra phần giá trị gia tăng cao nhất.Theo GS.Bowon Kim thì phần giá trị này được tính bằng tỷ số giữa tổng lợi ích do logistics đóng góp và tổng chi phí logistics doanh nghiệp bỏ ra : Giá trị = Tổng lợi ích/ Tổng chi phí .

Theo công thức này, để gia tăng mục tiêu quản trị logistics thì cần tăng lớn phần lợi ích đóng góp hoặc làm giảm những chi phí có liên quan đến các nỗ lực tạo lợi ích.( Hoặc có thể cả hai ) .Điều này chỉ ra rằng, quản trị logistics chuỗi cung ứng có hai mục tiêu chính là giảm tổng chi phí logistics và tăng mức độ phục vụ ( đúng thời gian , đúng vị trí, đúng số lượng ) còn gọi là mức dịch vụ khách hàng.Hai mục tiêu này cần phải được tính toán và ưu tiên để cân bằng trong tương quan cung cầu của toàn chuỗi. Chính vì thế không thể chọn mục tiêu logistics một cách độc lập riêng rẽ mà phải căn cứ vào chiến lược phân phối là đẩy hay kéo hoặc đẩy kéo phối hợp để tìm ra vị trí của doanh  nghiệp trong chiến lược phân phối và từ đó xác định mục tiêu logistics phù hợp.

Phân tích quan điểm quản trị logistics chuỗi cung ứng cho thấy, lợi ích của logistics tích hợp chính là lợi ích từ các hoạt động kinh tế chia sẻ.Do đó các phương pháp và ứng dụng quản trị cần phải dựa trên nền tảng thông tin vững chắc và linh hoạt, mức độ xử lý thông tin chính xác , nhanh nhạy và hiệu quả.Đây là thách thức lớn nhất của các doanh nghiệp Việt Nam sau khó khăn về vốn đầu tư hiện nay.Tuy nhiên nhiệm vụ của các nhà quản trị Logistics  ở doanh nghiệp không phải là chờ đợi mà cần tìm kiếm các cách thức để cải tiến và áp dụng các phương pháp quản trị tích hợp có thể trước những khó khăn này.